biện pháp chăm sóc trẻ béo phì

Để đưa ra biện pháp chăm sóc trẻ béo phì phù hợp, chúng ta cần phải đánh giá được các nguyên nhân gây ra tình trạng này. Trẻ em trở nên thừa cân béo phì vì nhiều lý do, chẳng hạn như yếu tố di truyền, lười vận động, ăn uống không lành mạnh hoặc sự kết hợp của các nguyên nhân này. Một số biện pháp chăm sóc trẻ thừa cân béo phì Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 8 trang ) biện pháp chăm sóc trẻ thừa cân, béo phì trong trường mầm non Mỹ Hưng, Huyện Thanh Oai” năm học 2013 - 2014. 3. Phạm vi và thời gian thực hiện đề tài. Đề tài kinh nghiệm được thực hiện tại trường mầm non Mỹ Hưng, Huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội năm hoc 2013 - 2014 Vay 5s Online. Thừa cân, béo phì ở trẻ em gây nhiều hậu quả xấu tới sức khỏe như đái tháo đường tuýp 2, rối loạn chuyển hóa lipid máu và tăng huyết áp. Một số nghiên cứu cho thấy có đến 30% trẻ béo sẽ trở thành người béo khi trưởng thành, kèm theo đó là các bệnh mạn tính không lây như tim mạch huyết áp đái tháo đường và ung thư Chế độ ăn cho trẻ béo phì cần lưu ý những gì? Trẻ thừa cân béo phì cần có một chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý, đa dạng. Tăng cường ăn cá hải sản và rau Giảm đậm độ năng lượng của thức ăn bằng cách giảm thức ăn giàu chất béo, đường ngọt và tăng cường gluxit phức hợp ngũ cốc thô. Đồ ăn nhanh sẽ khiến trẻ dễ bị thừa cân, béo phì Cho trẻ ăn đúng giờ, không bỏ bữa, nhất là bữa ăn sáng và hạn chế ăn sau 20 giờ. Ăn nhiều vào bữa sáng, bữa trưa và giảm ăn vào bữa chiều và bữa tối. Không cho trẻ ăn nhiều quá, lượng thực phẩm mỗi bữa ăn phải phù hợp với tuổi. Nên cho trẻ ăn đủ các bữa trong ngày, không bỏ bữa và không để trẻ quá đói, vì nếu bị quá đói trẻ sẽ ăn nhiều trong các bữa sau làm mỡ tích lũy nhanh hơn. Cho trẻ uống sữa tươi không đường hoặc sữa tươi không đường tách béo và giàu canxi Khuyến khích trẻ ăn nhiều rau. Hạn chế các món rán, xào, nên cho trẻ ăn các món luộc, hấp và kho. Hạn chế cho trẻ uống các loại nước ngọt có ga và các loại nước có nhiều đường. Hạn chế cho trẻ ăn các thức ăn giàu năng lượng như xúc xích humberger, gà tẩm bột chiên KFC mì tôm kem, bánh kem sô cô la và bánh ngọt. Không dự trữ ở trong nhà các loại thức ăn giàu năng lượng như bơ, bánh kẹo, sô cô la, nước ngọt và kem. Không cho trẻ ăn hoặc uống sữa trước giờ đi ngủ. Hạn chế mỡ, phủ tạng động vật và da động vật. Hoạt động thể lực cần được quan tâm, tạo điều kiện, khuyến khích trẻ Cha mẹ cần quan tâm, tạo mọi điều kiện để giúp trẻ năng động và tích cực hoạt động thể lực Tận dụng mọi cơ hội để giúp trẻ tăng cường hoạt động thể lực như đi bộ đến trường, leo cầu thang và chơi với em nhỏ... Tập cho trẻ hoạt động thể lực hằng ngày 30-60 phút Chạy, đá bóng, đạp xe và bơi. Cha mẹ nên tập cùng với trẻ để theo dõi và khuyến khích trẻ hoạt động. Khi đến các nơi vui chơi công cộng, khuyến khích trẻ chơi các trò chơi làm tăng tiêu hao năng lượng như cầu trượt, leo dây và chơi trong nhà bóng. Hạn chế thời gian ngồi xem tivi, video và trò chơi điện tử dưới 2 giờ/ngày. Cần cho trẻ được vui đùa và chạy nhảy vào những thời gian rảnh rỗi. Hướng dẫn trẻ làm các công việc nhà Dọn dẹp nhà cửa, góc đồ chơi của trẻ và gấp quần áo. Béo phì là trọng lượng tăng quá mức, được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể BMI ≥30 kg/m2. Các biến chứng bao gồm rối loạn tim mạch đặc biệt ở những người thừa mỡ bụng, đái tháo đường, một số bệnh ung thư, bệnh sỏi mật, gan nhiễm mỡ, xơ gan, bệnh thoái hóa khớp, rối loạn sinh sản ở nam giới và nữ giới, rối loạn tâm lý, và tử vong sớm đối với người có BMI ≥ 35. Chẩn đoán dựa trên chỉ số khối cơ thể BMI. Điều trị bao gồm thay đổi lối sống ví dụ trong chế độ ăn, hoạt động thể chất và hành vi, và đối với một số bệnh nhân, các loại thuốc hoặc phẫu thuật giảm cân mất cân. Tỷ lệ mắc béo phì ở Mỹ cao ở mọi lứa tuổi xem bảng Điều chỉnh sự thay đổi tỷ lệ béo phì theo NHANES Những thay đổi về tỉ lệ hình thành béo phì theo NHANES . Từ năm 2017-2018, 42,4% số người lớn bị béo phì 1 Tài liệu tham khảo chung Béo phì là trọng lượng tăng quá mức, được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể BMI ≥30 kg/m2. Các biến chứng bao gồm rối loạn tim mạch đặc biệt ở những người thừa mỡ bụng, đái tháo... đọc thêm . Tỷ lệ hiện hành thấp nhất ở người lớn gốc Á không phải gốc Tây Ban Nha 17,4% so với người lớn da đen không phải gốc Tây Ban Nha 49,6%, người lớn gốc Tây Ban Nha 44,8% và người lớn da trắng không phải gốc Tây Ban Nha 42,2%. Không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ hiện hành giữa nam và nữ ở người lớn da trắng không phải gốc Tây Ban Nha, người lớn châu Á không phải gốc Tây Ban Nha hoặc gốc Tây Ban Nha; tuy nhiên, tỷ lệ hiện hành ở phụ nữ da đen không phải gốc Tây Ban Nha 56,9% cao hơn tất cả các nhóm khác. Tại Mỹ, béo phì và các biến chứng của nó gây ra ca tử vong sớm mỗi năm, khiến nó là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 có thể phòng tránh được, chỉ đứng sau hút thuốc lá. 1. Hales CM, Carroll MD, Fryar CD, et al Prevalence of obesity and severe obesity among adults United States, 2017–2018. NCHS Data Brief, no 360. Hyattsville, MD National Center for Health Statistics, 2020. Những nguyên nhân của sự béo phì có thể là đa nhân tố và bao gồm khuynh hướng di truyền. Cơ bản, béo phì là kết quả của sự mất cân bằng kéo dài giữa lượng năng đưa vào và năng lượng tiêu hao, bao gồm năng lượng sử dụng cho các quá trình trao đổi chất cơ bản và năng lượng tiêu hao từ hoạt động thể chất. Tuy nhiên, nhiều yếu tố khác dường như làm tăng khuynh hướng mắc béo phì, bao gồm rối loạn nội tiết ví dụ, chất bisphenol A, BPA, vi khuẩn đường ruột, chu kỳ ngủ/thức, và các yếu tố môi trường. Di truyền của BMI là khoảng 66%. Các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến nhiều tín hiệu phân tử và thụ thể được sử dụng bởi các bộ phận của vùng dưới đồi và đường tiêu hóa để điều chỉnh lượng thực phẩm đưa vào xem thanh bên Các con đường điều chỉnh lượng thực phẩm đưa vào Các con đường điều chỉnh thực phẩm đưa vào . Các yếu tố di truyền có thể được di truyền hoặc là kết quả từ các điều kiện lúc thai nhi được gọi là sự đóng dấu gen. Hiếm khi, béo phì là hậu quả từ mức độ bất thường của peptide điều chỉnh lượng thực phẩm đưa vào ví dụ, leptin hoặc các bất thường trong các thụ thể của chúng ví dụ thụ thể melanocortin-4. Trọng lượng tăng khi lượng calo đưa vào vượt quá nhu cầu năng lượng. Các yếu tố quan trọng xác định năng lượng đưa vào bao gồm Kích thước khẩu phần ănĐộ đậm năng lượng của thực phẩmCác thực phẩm có hàm lượng năng lượng cao ví dụ, các thực phẩm chế biến, các chế độ ăn có lượng carbohydrate tinh chế cao, và sử dụng các đồ uống nhẹ, nước hoa quả, và rượu làm tăng cân. Các chế độ ăn nhiều rau quả tươi, chất xơ, carbohydrate phức hợp, và các chất đạm nạc, với nước là chất lỏng tiêu thụ chính, làm giảm thiểu sự tăng lối sống tĩnh tại góp phần tăng cân. Sự béo phì của mẹ trước khi sinh, mẹ hút thuốc trước khi sinh, và việc hạn chế tăng trưởng trong thai kỳ có thể làm rối loạn điều chỉnh cân nặng và góp phần tăng cân trong thời thơ ấu và sau đó. Béo phì ở thời thơ ấu làm cho việc giảm cân trong cuộc sống sau này khó khăn xúc sớm với chất gây béo phì, một loại hóa chất gây rối loạn nội tiết ví dụ khói thuốc lá, bisphenol A, ô nhiễm không khí, chất chống cháy, phthalates, polychlorination biphenyls có thể làm thay đổi vị trí chuyển hóa thông qua vận động hoặc tăng kích hoạt hạt nhân 2 Các yếu tố điều chỉnh .Khoảng 15% phụ nữ tăng vĩnh viễn ≥ 20 Ib mỗi lần mang không đủ giấc thường được coi là 50%Trong thời gian thanh thiếu niên nếu bố mẹ có béo phì > 80%Ở trẻ em, phòng ngừa tăng cân trong tương lai, thay vì giảm cân, là một mục tiêu hợp lý. Chế độ ăn nên thay đổi, và hoạt động thể lực tăng lên. Tăng các hoạt động chung và vui chơi có khả năng hiệu quả hơn một chương trình tập luyện. Tham gia vào các hoạt động thể chất trong thời thơ ấu có thể thúc đẩy một lối sống năng động suốt đời. Hạn chế các hoạt động tĩnh tại ví dụ, xem TV, sử dụng máy tính hoặc thiết bị cầm tay có thể giúp ích. Các thuốc và phẫu thuật nên tránh nhưng, nếu các biến chứng của béo phì đe dọa tính mạng, có thể rất có biện pháp kiểm soát cân nặng và phòng ngừa béo phì ở trẻ em có thể có các lợi ích lớn nhất cho sức khỏe cộng đồng. Các biện pháp nên được thực hiện trong gia đình, trường học, và các chương trình chăm sóc ban đầu. Ở Mỹ, tỷ lệ người cao tuổi béo phì đang gia tuổi già, mỡ cơ thể tăng và được tái phân bố vào vùng bụng, và khối lượng cơ bị mất, ở mức lớn, bởi vì không hoạt động thể chất, nhưng giảm hormone nam và hormone tăng trưởng được đồng hóa và các cytokines viêm sinh ra khi béo phì có thể đóng một vai cơ của các biến chứng phụ thuộc vào Sự phân bố mỡ cơ thể tăng chủ yếu là mỡ phân bố ở vùng bụngKhoảng thời gian và mức độ nghiêm trọng của béo phìLiên quan thiếu cơ Tăng vòng bụng, đề xuất phân bố mỡ bụng, dự đoán tỉ lệ mắc bệnh ví dụ, tăng huyết áp Tăng huyết áp Tăng huyết áp là tình trạng tăng liên tục của huyết áp tâm thu lúc nghỉ ≥ 130 mmHg hoặc huyết áp tâm trương lúc nghỉ ≥ 80 mm Hg, hoặc cả hai. Tăng huyết áp mà không có nguyên nhân rõ ràng... đọc thêm , đái tháo đường Đái tháo đường DM Đái tháo đường là suy giảm bài tiết insulin và nồng độ kháng insulin ngoại vi thay đổi dẫn đến tăng đường huyết. Triệu chứng sớm liên quan tới tăng glucose máu và bao gồm uống nhiều, khát nhiều... đọc thêm , bệnh động mạch vành Tổng quan bệnh động mạch vành Bệnh động mạch vành CAD bao gồm sự suy giảm lưu lượng máu qua các động mạch vành, thông thường là do các mảng xơ vữa. Biểu hiện lâm sàng bao gồm thiếu máu cơ tim thầm lặng, đau thắt ngực,... đọc thêm và nguy cơ tử vong tốt hơn ở người cao tuổi so với BMI. Với sự già hóa, chất béo có xu hướng tích nhiều hơn trong vùng với người lớn tuổi, bác sĩ có thể khuyến nghị giảm lượng calo nạp vào và tăng hoạt động thể chất. Tuy nhiên, nếu những bệnh nhân lớn tuổi mong muốn giảm đáng kể lượng calo đưa vào, chế độ ăn của họ nên được bác sĩ giám sát. Hoạt động thể chất cũng cải thiện sức mạnh cơ, tính dẻo dai, sức khỏe tổng thể và giảm nguy cơ phát triển các rối loạn mạn tính như đái tháo đường. Hoạt động nên bao gồm các bài tập tăng sức khỏe và tăng sức lượng calo được xem xét đưa vào như thế nào thì dinh dưỡng cũng cần phải được tối ưu hóa. Ngủ tốt và có chất lượng, quản lý căng thẳng và giảm lượng cồn đưa vào cũng rất quan trọng. Béo phì làm tăng nguy cơ gặp nhiều vấn đề sức khoẻ và là nguyên nhân gây ra trường hợp tử vong sớm mỗi năm tại Hoa Kỳ, khiến cho nó chỉ đứng sau hút thuốc về nguyên nhân gây tử vong có thể ngăn ngừa calo đưa vào quá mức và ít hoạt động thể chất góp phần lớn vào sự béo phì, nhưng tính nhạy cảm di truyền và các rối loạn khác nhau bao gồm rối loạn ăn cũng có thể góp lọc những bệnh nhân qua chỉ số BMI và đo chu vi vòng eo và, khi có chỉ định phân tích thành phần cơ thể, bằng cách đo độ dày lớp mỡ dưới da hoặc sử dụng phân tích trở kháng điện sinh lọc những bệnh nhân béo phì cho các rối loạn phổ biến kèm theo, như ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, gan nhiễm mỡ, và trầm viên bệnh nhân giảm thậm chí từ 5 đến 10% trọng lượng cơ thể bằng cách thay đổi chế độ ăn của họ, tăng hoạt động thể lực và sử dụng các can thiệp hành vi nếu có trị thử với orlistat, phentermine, phentermine/topiramate, naltrexone/bupropion, liraglutide hoặc semaglutide nếu BMI ≥ 30 hoặc nếu BMI ≥ 27 và họ có các biến chứng ví dụ tăng huyết áp, kháng insulin; tuy nhiên, với béo phì mức độ nặng, phẫu thuật là hiệu quả viên tất cả bệnh nhân luyện tập, ăn lành mạnh, ngủ đủ giấc, và quản lý căng thẳng. Trẻ em hay ăn, thèm ăn gây lớn nhanh và lớn quá khổ, quá cân. Dẫn đến bệnh béo phì ở trẻ. Bệnh béo phì gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Hãy cùng tìm hiểu về kế hoạch chăm sóc trẻ béo phì dành cho bậc cha mẹ quan Thực trạng thừa cân béo phì ở trẻ em tại Viet NamRelated articles Đắp mặt nạ có tác dụng gì? Những lợi ích tuyệt vời của mặt nạ cho làn da Top 15+ Thực phẩm tốt cho xương khớp bạn không nên bỏ qua 2. Tác hại của béo phì ở trẻ em nghiêm trọng như thế nào?Bệnh lý tim mạchBệnh lý nội tiết – chuyển hóaBệnh lý hô hấpBệnh lý tiêu hóaBệnh lý cơ xươngTăng áp lực nội sọ vô cănCác ảnh hưởng về tâm lý2. Chia loại béo Phân loại theo lý do sinh Chia loại theo hình thái mô mỡ và tuổi bắt đầu béo Chia loại theo phân vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫuPhương pháp chăm sóc trẻ béo phìNhững điều nên làm1. Thực trạng thừa cân béo phì ở trẻ em tại Viet NamTheo Ths. BS. Lê Thị Kim Dung – chuyên gia dinh dưỡng, thuộc khoa Nội tổng quát Nhi Phòng khám CarePlus Tân Bình, thừa cân béo phì là sự tích tụ mỡ bất thường, vượt quá mức làm ảnh hưởng đến sức dữ liệu thống kê cho chúng ta thấy, hiện nay, thừa cân béo phì ở trẻ nhỏ đang là nỗi lo thách thức trên thế giới. Chỉ riêng tại Việt Nam, năm 1996 tỷ lệ trẻ em thừa cân béo phì tại Hà Nội và chỉ là 12%. Sau 13 năm, tức năm 2009, phần trăm này là 43%. kết quả điều tra năm 2014-2015 của Viện Dinh dưỡng Việt Nam, tỷ lệ trẻ béo phì ở trên 50%, còn khu vực nội thành Hà Nội khoảng 41%.Qua những số liệu trên, có thể thấy tỷ lệ béo phì ở trẻ em đang dần tăng lên, đặc biệt là ở những thành phố Tác hại của béo phì ở trẻ em nghiêm trọng như thế nào?Không chỉ riêng ngoại hình, béo phì còn gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng khác cho trẻ, bao gồmBệnh lý tim mạchTrẻ em bị béo phì có nguy cơ bị tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành … khi trưởng thành. Lý do chính là do lượng mỡ thừa bọc thu thập tim, làm hẹp mạch vành, cản trở lượng máu vận chuyển đến nuôi tim, từ đấy làm xuất hiện các bệnh lý về tim lý nội tiết – chuyển hóaBên cạnh các bệnh lý kháng insulin, đái tháo đường type 2, rối loạn mỡ máu… béo phì còn là tác nhân hàng đầu gây dậy thì sớm ở bé gái. Theo đấy, dậy thì sớm hoàn toàn không tốt cho trẻ bởi hiện trạng này sẽ khiến trẻ bị hạn chế chiều cao khi trưởng thành, có ham mong muốn tình dục trước tuổi, xuất hiện hội chứng buồng trứng đa nang… Do vậy, nếu thấy trẻ có những biểu hiện hoặc nghi ngờ bé nhà mình bị trạng thái này, ba mẹ nên cho bé nhà mình đi thời điểm hiện tại CarePlus đang cung cấp các gói khám Khám dậy thì sớm ở trẻ em với đa dạng các mức giá không giống nhau. Thông qua các xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và tư vấn của các bác sỹ hàng đầu trong lĩnh vực, ba mẹ sẽ biết được trạng thái hiện tại của bé như thế nào cũng như có bất kỳ hệ quả nào khi đến độ tuổi trưởng thành hay lý hô hấpMỡ thừa có thể khiến cho đường thở gặp nhiều khó khăn, thậm chí là tắc nghẽn hoàn toàn. do đó người bị béo phì rất dễ gặp chứng ngưng thở khi ngủ và hội chứng giảm thông cân khiến bé gặp rất nhiều nỗi lo về sức lý tiêu hóaMỡ thừa về dài hạn sẽ gây ra các tình trạngMỡ dư bám vào các quai ruột gây táo bón, dễ sinh ra bệnh ứ đọng phân và các chất thải độc hại sinh ra trong lúc chuyển hóa dễ sinh bệnh ung thư đại mỡ dư tích tụ ở gan gây bệnh gan nhiễm mỡ và xơ loạn chuyển hóa mỡ sinh ra sỏi lý cơ xươngDo trọng lượng cơ thể gây sức ép lên xương khớp quá lớn, trẻ dễ bị thoái hóa khớp, loãng xương, đau nhức triền miên. ngoài ra, trẻ thừa cân béo phì dễ mắc bệnh thường về da gai đen da, rạn da …Tăng áp lực nội sọ vô cănTình trạng này còn được biết tới với cái tên là hội chứng “giả u não”. Hội chứng này làm trẻ bị đau đầu và gặp các sai lầm về thị ảnh hưởng về tâm lýTrẻ thừa cân và béo phì dễ bị phân biệt đối xử bởi các bạn đồng trang lứa vì ngoại hình. Bên cạnh đó, thừa cân béo phì có thể khiến trẻ bị chứng rối loạn ăn uống khi trưởng thêm Cách chăm sóc trẻ sinh non cùng những điều mẹ nên chú ý2. Chia loại béo Phân loại theo lý do sinh bệnhBéo phì đơn thuần Loại béo phì không có lý do sinh bệnh rõ ràng chiếm tỷ lệ hơn 90%.Béo phì bệnh lý Do các bệnh lý nội tiết hay khiếm khuyết di truyền 10% Chia loại theo hình thái mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phìBéo phì xuất hiện sớm xuất hiện trước khi trẻ 5 phì xuất hiện muộn Béo phì xuất hiện muộn sau 5 giai đoạn dễ xảy ra béo phì là thời kỳ nhũ nhi, 5- 7 tuổi, vị thành niên. Béo phì xảy ra trong giai đoạn này tăng rủi ro béo phì trường diễn và các biến chứng như rủi ro mắc bệnh tim mạch, các rối loạn tâm bệnh hơn các béo phì khởi phát Chia loại theo phân vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫuBéo bụng béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông Mỡ tập trung ở đùi béo ngoại vi, béo phần thấp, béo hình quả lê, béo kiểu đàn bà Mỡ tập trung Chủ yếu ở mông và bụng có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch, đái đường tăng insulin máu, rối loạn lipid máu, không dung nạp glucose hơn béo thêm Phân loại bảo hiểm cho trẻ em. Có nên mua bảo hiểm nhân thọ cho trẻNhững điều nên làm– Khẩu phần ăn của trẻ cần cân đối, hợp lý, nên phối hợp nhiều loại thức ăn, tránh ăn một loại thực phẩm nào đó. – Nếu uống sữa nên uống không đường, trẻ lớn nên uống sữa gầy sữa bột tách bơ. không nên uống sữa đặc có đường. – Chế biến thức ăn Hạn chế các món rán, xào, nên làm các món luộc, hấp, kho. – Nên nhai kỹ và ăn chậm, ăn đều đặn, không bỏ bữa, không để trẻ quá đói, vì nếu như bị quá đói, trẻ ăn nhiều trong các bữa sau làm mỡ tích luỹ nhanh hơn. – Nên ăn nhiều vào bữa sáng để tránh ăn vặt ở trường, giảm ăn về chiều và tối. – Nên ăn nhiều rau xanh, quả ít ngọt. giảm bớt gạo thay bằng khoai, ngô là những thức ăn cơ bản giàu chất xơ .Đối với trẻ dưới 2 tuổi– Bú sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng – Không cho trẻ ăn nhiều quá, thể tích mỗi bữa phải phù hợp với tháng tuổi. – Cháo, bột phải có mức năng lượng thấp, không cho thêm các thực phẩm nhiều béo vào bát bột, cháo của trẻ như bơ, phomat, sữa giàu béoNhững điều nên tránh– Không nên cho trẻ uống các loại nước ngọt có ga – Hạn chế các loại bánh kẹo, đường mật, kem, sữa đặc có đường. – Không được dự trự sẵn các kiểu thức ăn giàu năng lượng như Bơ, pho mát, bánh, kẹo, chocoat, kem, nước ngọt trong nhà. – Không được cho trẻ ăn vào lúc tối trước khi đi ngủ. – Tăng cường công việc thể lực ở trẻ. so với điều trị bằng chế độ ăn, tăng cường công việc thể lực tỏ ra có tốt hơn, giúp trẻ phát triển chiều cao và duy trì sức khoẻ biện pháp giúp trẻ tăng cường vận động– Tạo niềm thích thú của trẻ đối với các hoạt động thể thao. – Các bậc cha mẹ cần chú ý ủng hộ và tạo mọi điều kiện giúp trẻ năng động. – Chú trọng những sở thích của trẻ tham gia các môn thể thao đơn giản gần gũi với cuộc sống như đi bộ đến trường, chạy, nhảy dây, đá bóng, đánh cầu lông, đá cầu, leo cầu thang… – Nên hướng dẫn trẻ làm các công việc ở nhà Lau dọn nhà cửa, xách nước tưới cây, bưng bê đồ đạc… – Hạn chế ngồi coi tivi, clip, trò chơi điện tử… – không nên bắt trẻ học quá là nhiều, nên tạo điều kiện để trẻ được vui đùa chạy nhảy sau những giờ học căng Ly – Tổng hợp Tham khảo

biện pháp chăm sóc trẻ béo phì